Quyền tự do lập hội và quyền tự do tôn giáo là những nhân quyền quan trọng của mọi người đã được ghi trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế (UDHR 1948) và Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự Và Chính Trị (ICCPR 1966) của Liên Hiệp Quốc. Vào năm 1982, Nhà nước Việt Nam đã gia nhập ICCPR. Ngoài ra, Hiến Pháp Việt Nam hiện hành cũng quy định về quyền tự do lập hội và tự do tôn giáo của mọi người tại các Điều 24 và 25.
Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng dẫn tới việc mọi người đều có thể chủ động thực hiện đề nghị gia nhập một tổ chức tôn giáo hoặc yêu cầu chia tách và chấm dứt hoạt động chung của mình với tổ chức tôn giáo mà mình đã gia nhập.
Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này tại Việt Nam không hề có sự dễ dàng như nhau. Cho đến nay, chính quyền vẫn chây ỳ không ban hành luật về hội. Không những thế, các quy định hiện hành về việc gia nhập hoặc chia tách tổ chức tôn giáo được ghi trong Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo 2016 đều được chính quyền Việt Nam thiết kế mang tính bẫy người dân. Những cái bẫy này đang phát huy tối đa tác dụng gom người dân có nhu cầu thành lập một tổ chức tôn giáo sẽ tự chui đầu vào những tổ chức phản động đội lốt tôn giáo(*) do chính quyền đang giữ quyền kiểm soát tuyệt đối nhưng để yêu cầu chia tách và chấm dứt hoạt động chung thì vô cùng khó khăn.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 28 của Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo, điều kiện để có thể được chia tách thành một tổ chức tôn giáo độc lập thì trước đó trong hiến chương của tổ chức phải có điều khoản quy định về vấn đề này. Trong trường hợp hiến chương của tổ chức không có quy định này thì chỉ có một con đường duy nhất đó là căn cứ vào Điểm b, Khoản 1 Điều 31 Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo để chấm dứt hoạt động chung với tổ chức tôn giáo mình đã gia nhập. Tuy nhiên, Điều 31 này được thiết kế dẫn tới hậu quả pháp lý đó là “giải thể một tổ chức tôn giáo”. Điều này sẽ đặt tổ chức tôn giáo tách ra rơi vào tình trạng mất năng lực pháp lý trước chính quyền. Do đó, trong nhiều trường hợp không phải cứ muốn chia tách là có thể chia tách được.
Để kết thúc bài viết về vấn đề này, chúng tôi vẫn muốn dẫn lại một phần lời kết của bài báo kỳ trước chúng tôi viết về vấn đề khả năng thành lập một tổ chức tôn giáo tại Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay:
Vẫn biết thành lập một tổ chức tôn giáo là một nhu cầu tự nhiên chính đáng của một cộng đồng có chung niềm tin tôn giáo. Tuy nhiên nên nhớ rằng, sự công nhận hay không công nhận của một chính quyền đối với một tôn giáo hoặc một tổ chức tôn giáo không phải là yếu tố cần và đủ để xác định tính chính danh của một tôn giáo hoặc một tổ chức tôn giáo. Điều quan trọng cốt lõi của sự do tôn giáo của mọi người nằm trong quyền tự do lựa chọn một niềm tin tôn giáo cho riêng mình. Quyền đó bao gồm quyền có hoặc không có một niềm tin tôn giáo, quyền từ bỏ hoặc thay đổi một niềm tin tôn giáo.
Đừng vì quá khát khao muốn có một tổ chức tôn giáo “được chính quyền công nhận” để rồi tình nguyện chui đầu vào trong các tổ chức phản động trá hình đội lốt tôn giáo(*). Để rồi khi nhận ra thì lại càng kẹt hơn khi không có đủ căn cứ để chia tách hoạt động độc lập.
(*) Hãy cảnh giác trước khi gia nhập với sáu tổ chức sau đây đã bị Uỷ Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế chỉ mặt đặt tên là những tổ chức phản động đội lốt tôn giáo biến mình thành công cụ tấn công tôn giáo của chính quyền Việt Nam. Họ là:
1/ Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo,
2/ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam,
3/ Ban Trị Sự Phật Giáo Hoà Hảo,
4/ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (Miền Bắc)
5/ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (Miền Nam)
6/ Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh)
BPSOS – Đề Án Dân Quyền Việt Nam
