Vào năm 1945, sau khi cướp được quyền cai trị quốc gia tại miền Bắc, chính quyền cộng sản Việt Nam đã áp dụng ngay hình thức cưỡng bức lao động khổ sai với những người tù trong các nhà tù được đặt dưới tên “trại lao động cải tạo”. 

Sau khi kết thúc chiến tranh với chính quyền Việt Nam Cộng Hoà tại miền Nam vào năm 1975, chính quyền cộng sản Việt Nam tiếp tục ra sức đẩy mạnh việc hoàn thiện các hình thức cưỡng bức và bóc lột sức lao động của người tù trong các “trại lao cải”. Đây là thời kỳ rất nhiều người của bên thua cuộc thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã bị đưa đi “học tập” nhưng phải sống những năm tháng dài của thân phận người tù không bản án, bị bóc lột sức lao động một cách thê thảm ở những nơi rừng sâu núi thẳm và đầy dịch bệnh.

Sau cùng, kể từ những năm 1990, chính quyền cộng sản Việt Nam đã từng bước công khai chính sách pháp lý về tình trạng cưỡng bức lao động đối với người tù.

Hiện nay, luật pháp Việt Nam đã buộc phải thừa nhận lao động là quyền của người tù (Điểm đ, Khoản 1 Điều 23 Luật Thi Hành Án Hình Sự 2025). Tuy nhiên, ngay chính văn bản này thôi, tại Điểm d Khoản 2 Điều 23 chính quyền cộng sản Việt Nam đã  quy định người tù phải chấp hành nghĩa vụ bị buộc phải lao động. Và tại Khoản 4 Điều 4 của luật này, chính quyền cộng sản Việt Nam coi đó là những nguyên tắc trong việc thi hành án hình sự với người tù nhằm mục tiêu trừng trị kết hợp với cải tạo. Rõ ràng đây chỉ là cách nói khác của tình trạng cưỡng bức và bóc lột sức lao động của người tù mà ở đó tù nhân không có quyền lựa chọn.

Ngoài ra, hiện nay, trong Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2024 cũng không đưa người lao động là người tù vào trong danh sách những đối tượng bắt buộc hoặc được tự nguyện tham gia bảo hiểm xã hội. Trong khi đó, ngay cả người lao động giúp việc nhà và người đi làm công việc này tại nước ngoài cũng đã được đưa vào diện bắt buộc hoặc được phép tham gia bảo hiểm xã hội.

Hoàn thiện cho chính sách về lao động và bảo hiểm xã hội, ngày 15 tháng 7 năm 2026, Chính Phủ Việt Nam đã ban hành Nghị Định số 283/2026/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong nghị định kể trên cũng không có điều khoản nào xác định người bị buộc phải lao động trong thời gian đi tù được coi là người lao động và được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc tự nguyện.

Đây là những chỉ dấu pháp lý mà chính quyền Việt Nam sẽ không thể chối cãi hoặc bao biện được về tình trạng cưỡng bức và bóc lột sức lao động của người tù. Đây cũng là những chứng cứ về mặt pháp lý để Nhóm Kết Nghĩa Bảo Trợ Quyền Lao Động Của Tù Nhân Việt Nam thực hiện các bản báo cáo khẩn cấp gửi hành pháp Hoa Kỳ xem xét vấn đề cưỡng bức lao động ở trong các nhà tù Việt Nam và sau đó, nhóm công tác sẽ đưa vào một kế hoạch làm việc dài lâu về vấn đề quyền tù nhân với các chính phủ, các định chế nhân quyền Liên Hiệp Quốc, Tổ Chức Lao Động Quốc Tế,và các tổ chức nhân quyền quốc tế khác. Vấn đề còn lại đó là phải tìm ra các chứng cứ định lượng về mặt vật chất như tù nhân đã bị cưỡng bức làm việc gì, cường độ làm việc ra sao, tình trạng không được đảm bảo an toàn thế nào và giá trị ngày công của người tù đã bị chính quyền Việt Nam cướp đoạt là bao nhiêu trong thời gian bao lâu. Đây là những chứng cứ quan trọng trong việc đưa ra các yêu cầu buộc chính quyền Việt Nam phải bồi thường cho tù nhân. Vì vậy nhóm công tác rất cần sự hợp tác cung cấp thông tin từ bất cứ ai quan tâm tới vấn đề này. Xin nhắc lại email tiếp nhận thông tin của nhóm đó là: [email protected]. Mọi nguồn tin sẽ được chúng tôi bảo mật để bảo vệ người cung cấp.

Cùng nhau làm việc để bảo vệ những nhân quyền mà người tù phải được đối xử bình đẳng!

Nhóm Kết Nghĩa Bảo Trợ Quyền Lao Động Của Tù Nhân Việt Nam