Vào đầu năm 2025, chính quyền Việt Nam tỉnh Đắk Lắk đã ban hành một văn bản với tên rất mỹ miều “Thư kêu gọi đồng bào dân tộc thiểu số Đắk Lắk đang cư trú tại Thái Lan tự nguyện hồi hương về Việt Nam”

Tuy nhiên đây là một văn bản mang tính chất gài bẫy pháp lý, đe doạ khủng bố tinh thần và phân biệt đối xử đồng bào các dân tộc bản địa vùng Tây Nguyên chứ không phải là một văn thư kêu gọi vận động. 

Thứ nhất, tính đến thời điểm năm 2025, các chuyên gia nhân quyền của Liên Hiệp Quốc đã chính thức sử dụng cụm từ “người Thượng bản địa” để chỉ những đồng bào các dân tộc sống lâu đời ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Vậy mà chính quyền Việt Nam tỉnh Đắk Lắk vẫn dùng cụm từ “đồng bào dân tộc thiểu số” ngầm ý so sánh với sự hiện diện cư trú đông đảo của người dân tộc Kinh ở vùng đất này chỉ từ sau năm 1975 đến nay. Đây là một chủ trương nhằm xoá đi dấu vết về một cuộc di cư cưỡng chiếm đất đai của một dân tộc có dân số đông đối với những dân tộc có dân số ít ỏi. Thuật ngữ “dân tộc ít người” chỉ được phép xuất hiện duy nhất trên phương diện thống kê dân số. Trong khi để bảo tồn đời sống văn hoá tinh thần thì người ta phải dùng thuật ngữ “người bản địa” mới có thể xác định chính xác cội nguồn sinh sống cùng đời sống văn hoá của một dân tộc. Trong khía cạnh này, dân tộc ít người hay dân tộc nhiều người không làm nên nét đặc trưng. Ngay như trên phương diện pháp lý, thuật ngữ “đồng bào thiểu số” cũng không được phép dùng bởi nó đang hàm ý phân biệt đối xử giữa người dân tộc này với người thuộc dân tộc khác trong khi nguyên tắc pháp lý là mọi người phải được đối xử bình đẳng. 

Thứ nhì, đồng bào người Thượng bản địa vùng Tây Nguyên Việt Nam buộc phải rời bỏ quê hương sang Thái Lan lánh nạn trước vấn nạn cướp đất đai của chính quyền Việt Nam. Họ tới Thái Lan để tìm quy chế tị nạn và cơ hội định cư tại các nước phát triển. Do vậy, họ là nạn nhân của chế độ bất công, bất bình đẳng và tệ cướp đất của chính quyền chứ họ không phải là người phạm tội để chính quyền được phép dùng từ “khoan hồng”. Theo luật về lĩnh vực xuất cảnh, họ có thể đã buộc phải rời bỏ bản làng quê hương tổ quốc của mình mà không thực hiện thủ tục hành chính khi xuất cảnh. Nhưng đây là một điều dễ hiểu khi chính quyền Việt Nam không cấp hộ chiếu cho họ thì lấy gì để họ làm thủ tục xuất cảnh hợp pháp. Thêm nữa, theo luật và các Nghị Định 144/2021 và Nghị Định 282/2025 về lĩnh vực xuất cảnh thì trong các trường hợp vi phạm lần đầu chỉ là vi phạm hành chính. Một người chỉ bị coi là phạm tội xuất cảnh trái phép theo Điều 347 khi họ đã vi phạm và bị xử lý hành chính nhiều lần hoặc họ chỉ có thể phạm tội tổ chức xuất nhập cảnh trái phép theo Điều 348 Bộ Luật Hình Sự 2015. Đồng bào người Thượng bản địa rời quê hương để mưu cầu cuộc sống an toàn cho bản thân. Họ ra đi không mong muốn phải trở về. Họ không xuất nhập cảnh nhiều lần vào Việt Nam thì lấy đâu để gọi họ là những kẻ phạm tội mà áp dụng chính sách “khoan hồng”

Điều đáng lo ngại hiện nay, chính quyền tỉnh Đắk Lắk lại tiếp tục sử dụng văn bản này để thực hiện một chiến dịch “vận động” trái pháp luật mới đối với đồng bào người Thượng bản địa đang lánh nạn tại Thái Lan hoặc tuyên truyền với đồng bào người Thượng bản địa đang sống ở vùng Tây Nguyên để cưỡng bức họ làm một số việc trái với sự tự nguyện tự chịu trách nhiệm của họ đối với người thân đang sống yên ổn ở nước ngoài.

Đồng bào người Thượng bản địa trong và ngoài nước cần hết sức nâng cao cảnh giác trước văn bản lừa gạt này của chính quyền. Khi tự nguyện ký kết nhận hưởng sự “khoan hồng” của chính quyền chính là đồng bào đã tự nguyện xác định mình là kẻ phạm tội dù mình hoàn toàn không có tội.

Ba Khía