Cho đến nay, chính quyền Việt Nam vẫn không thể đưa ra được định nghĩa pháp lý thế nào là tà đạo. Tuy nhiên, cũng như một số chính quyền độc tài khác trên thế giới, cụm từ tà đạo đang được họ sử dụng như một nhãn từ trong truyền thông nhằm hợp thức hóa cho các quyết định xử lý pháp luật của họ đối với một người hoặc một nhóm người mang niềm tin tôn giáo mới lạ. Thông qua truyền thông, chính quyền Việt Nam thường cố gắng muốn người dân hiểu và tin rằng niềm tin mới lạ của một người hoặc nhóm người là gốc rễ của các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khác, vi phạm các điều cấm đã được quy định bởi pháp luật. Đây là một điều rất nguy hiểm bởi chính quyền sẽ nhân danh bảo vệ cộng đồng để cấm đoán quyền tự do về niềm tin tôn giáo của mọi người.

Quyền tự do tôn giáo của mọi người được Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự Và Chính Trị (ICCPR) của Liên Hiệp Quốc ghi nhận tại điều 18 với các khoản 1, 2 và 3 cụ thể như sau:

Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc niềm tin do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tôn giáo hoặc niềm tin, một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, trong việc thờ phụng, thực hiện lễ nghi, thực hành và truyền giảng.

2. Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do có hoặc đón nhận một tôn giáo hoặc  niềm tin do họ chọn lựa.

3. Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc niềm tin chỉ có thể bị áp đặt các giới hạn được quy định bởi pháp luật và là cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khoẻ hoặc đức lý công cộng, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác.”

Những quy định trên là rất chừng mực nhưng chính xác và đầy đủ. Một mặt chúng vừa đảm bảo được quyền tự do lương tâm tư tưởng trong đó trọng tâm là tự do về niềm tin tôn giáo của mọi người. Mặt khác và rất quan trọng đó là trong điều luật này, các chuyên gia nhân quyền quốc tế đã không cần phải dùng đến khái niệm tà đạo mà vẫn đảm bảo được quyền can thiệp của thực thể chính quyền trong việc điều chỉnh cách mọi người bày tỏ niềm tin tôn giáo ra bên ngoài. 

Quyền tự do bày tỏ niềm tin tôn giáo ra bên ngoài sẽ bị giới hạn nếu hành vi đó dù vô tình hay cố ý đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp người và tổ chức khác, vi phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng tới sức khoẻ hoặc các giá trị đạo đức căn bản của cộng đồng. Điều cần nhấn mạnh rằng quyền bày tỏ này chỉ bị giới hạn chứ không vì thế mà bị cấm. Việc cấm đoán sẽ ngay lập tức vi phạm vào chính quy định cốt lõi của điều luật đó là mọi người đều phải được tự do về lương tâm tư tưởng trong đó có tự do về niềm tin tôn giáo bao gồm sự tự do về lựa chọn và quyết định cho riêng mình.

Trên thực tế, luật pháp các quốc gia đều có các quy định pháp lý để xử lý các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp người và tổ chức khác, vi phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng tới sức khoẻ hoặc các giá trị đạo đức căn bản của cộng đồng. Luật pháp Việt Nam hiện hành cũng vậy. Chính quyền Việt Nam hiểu rất rõ điều đó nên vì thế họ mới không dám đưa ra định nghĩa pháp lý với cụm từ tà đạo. Do đó, việc dán nhãn tà đạo chính là một hình thức lợi dụng cơ hội xử lý một hành vi cụ thể có vi phạm pháp luật để tước đoạt luôn quyền tự do tôn giáo của người hoặc nhóm người có hành vi cụ thể đó. 

Để chống lại việc này của chính quyền, mọi người cần phải hiểu rõ Điều 18 ICCPR của Liên Hiệp Quốc để phải tôn trọng sự khác biệt về niềm tin tôn giáo của người khác. Một người chỉ có thể bị xử lý bởi pháp luật từ hành vi của họ nhưng việc xử lý đó không bao giờ được phép đi kèm với việc dán nhãn để rồi tước đoạt luôn quyền tự do tôn giáo của họ.