Kết quả biểu quyết (nguồn: quochoi.vn).
Theo báo chí của chính quyền Việt Nam, vào chiều ngày 23 tháng 4 năm 2026, Quốc Hội đã thông qua Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo sửa đổi với tỉ lệ 100% số đại biểu có mặt tán thành (492/492). Đạo luật này sẽ chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2027, thay thế cho Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo 2016 hiện hành.
Đạo luật được thông qua trong bối cảnh dường như người dân thậm chí kể cả các chức sắc tôn giáo rất ít người được biết kế hoạch sửa đổi này. Trang web của Bộ Dân Tộc Và Tôn Giáo cũng bỏ trống thông tin về sự góp ý kiến của người dân, các tổ chức tôn giáo và các tổ chức nhân quyền quan tâm tới quyền tự do tôn giáo.
Mặc dù đạo luật đã được thông qua, nhưng đến nay người ta cũng chưa biết cụ thể nội dung của nó chính xác gồm những gì. Những đánh giá dưới đây dựa vào bộ hồ sơ dự án Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo sửa đổi được lưu tại trang web của Bộ Dân Tộc Và Tôn Giáo với 12 tài liệu các loại. Theo các tài liệu này, có bốn nội dung quan trọng của Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo 2016 đã được sửa đổi mạnh mẽ:
Nội dung thứ nhất: Khoản 4 Điều 34 của dự thảo luật mới quy định “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 32 của Luật này có quyền đình chỉ hoặc yêu cầu tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đình chỉ chức vụ của chức việc” trong một số trường hợp. Đây là một quy định thể hiện bước lấn tới rất rõ rệt của chính quyền Việt Nam trong việc can thiệp thô bạo vào các tổ chức tôn giáo. Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo 2016 hiện hành, mới chỉ dừng lại ở việc bắt các tổ chức tôn giáo phải chấp nhận sự chuẩn thuận của họ đối với các lãnh đạo tổ chức tôn giáo. Chưa đầy 10 năm sau, chính quyền Việt Nam đã tự cho mình quyền đình chỉ hoạt động với các lãnh đạo tôn giáo và quyền ép buộc các tổ chức tôn giáo phải tự loại bỏ lãnh đạo tôn giáo của mình.
Nội dung thứ nhì: Có tới 10 lần, dự thảo đạo luật mới nhắc đến khái niệm “tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo” bên cạnh các khái niệm “tổ chức tôn giáo” và “tổ chức tôn giáo trực thuộc”. Điều này về mặt câu chữ có thể cho người ta cảm giác tưởng như chính quyền Việt Nam đã quan nhiều hơn, mở rộng nhiều hơn quyền cho cả những tổ chức chỉ mới phôi thai có các hoạt động về tôn giáo. Tuy nhiên, theo quan sát của Đề Án Dân Quyền Việt Nam, một công tác của BPSOS trong 8 năm qua thì đây là sự lập lại có chủ đích dẫn dụ người trong nước tiếp tục hiểu theo hướng tự trói mình “ít nhất phải có được đăng ký hoạt động tôn giáo” từ chính quyền thì mới được hoạt động. Không chỉ đơn thuần là sự dẫn dụ mà thực tế là trong 8 năm qua, nhiều tổ chức tôn giáo độc lập, chức sắc tôn giáo độc lập và các tín đồ độc lập đã cùng bị chính cán bộ công quyền Việt Nam không cho phép sinh hoạt tôn giáo và hoạt động tôn giáo với lý do chưa được cấp chứng nhận đăng ký.
Nội dung thứ ba: Trong dự thảo luật mới, vấn đề người đại diện của điểm sinh hoạt tôn giáo, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo phải là người “không bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính; không có án tích theo quy định của pháp luật về hình sự”. Quy định này đã đặt ra các mức độ khó khăn đáng kể so với quy định trước đây đó là “không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự”. Với quy định này, việc áp dụng các biện pháp bổ sung của biện pháp xử phạt vi phạm hành chính hoặc pháp luật về hình sự sẽ là công cụ để khống chế người đại diện của điểm sinh hoạt tôn giáo, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo không đủ điều kiện để làm đại diện.
Nội dung thứ tư: Khoản 17 Điều 2 Dự thảo luật mới bổ sung thêm khái niệm “Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng” là “việc tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên môi trường được hình thành bởi hệ thống mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu”. Trước hết, cần phải thấy đây là một quy định không đối xứng khi trong đạo luật hiện hành (2016) và dự thảo đạo luật mới (2026) vẫn đang tồn tại hai khái niệm sinh hoạt tôn giáo và hoạt động tôn giáo. Việc không có khái niệm về “sinh hoạt tôn giáo trên không gian mạng” sẽ làm triệt tiêu quyền của những cá nhân thực hành niềm tin tôn giáo của họ trên không gian mạng. Hoặc đây cũng chính là điểm mập mờ để cán bộ công chức chính quyền sẽ gom sinh hoạt tôn giáo trên không gian mạng thành hoạt động tôn giáo trên không gian mạng khi họ muốn xử lý vấn đề. Vấn đề tiếp theo cần phải đề cập tới đó là các quyền biểu đạt tôn giáo trên không gian mạng vốn dĩ không thể bị hạn chế do chúng gần như không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bất cứ ai (an toàn công cộng) nhưng nay chính quyền Việt Nam đã quyết tâm gán chúng vào với vấn đề an ninh mạng và an ninh quốc gia khi dự thảo chỉ rõ quy định này nhằm thúc đẩy việc thực thi Khoản 5 Điều 2 Luật An Ninh Mạng 2025.
Với mục tiêu đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo của mọi người, BPSOS sẽ theo dõi sát để cập nhật bản chính thức của Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo 2026 và có những hành động cụ thể trong các hoạt động báo cáo quốc tế khi đây đang là đề tài quan tâm mạnh mẽ của nhiều chuyên gia nhân quyền Liên Hiệp Quốc và nhiều chính phủ văn minh trước các cuộc đối thoại nhân quyền sẽ diễn ra với chính quyền Việt Nam.
BPSOS - Đề Án Dân Quyền Việt Nam
