Đầu năm 2022, các cơ quan chóp bu của chính quyền Việt Nam đã khởi tố vụ án hình sự “chuyến bay giải cứu”.
Đã có nhiều phiên xét xử khác nhau được tổ chức từ năm 2022 cho đến nay. Tuy nhiên, chỉ mới tính đến tháng 8 năm 2023, sau khi các cơ quan tiến hành tố tụng tạm kết thúc giai đoạn một của vụ đại án này thì đã xác định được 28 các quan chức cao cấp của chính quyền Việt Nam phải chịu án hình sự nặng nề trong đó rất nhiều người chịu hình phạt của khung chung thân – tử hình. Họ là những người thuộc Văn Phòng Chính Phủ, Bộ Ngoại Giao, Bộ Công An, Bộ Y Tế, Bộ Giao Thông Vận Tải…Họ phạm các tội nhận hối lộ, môi giới hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Nạn nhân của những hành vi tội phạm nói trên là những công dân Việt Nam đang sinh sống và lao động ở nước ngoại đã bị kẹt lại khi dịch bệnh COVID 19 bùng phát. Trong số này là rất nhiều phụ nữ và trẻ em gái đã bị các đối tượng buôn người xuyên quốc gia bán ra nước ngoài. Họ tiếp tục phải chịu cảnh bị các chủ nô lệ bóc lột sức lao động và cưỡng bức tình dục.
Mới đây nhất, vào ngày 15 tháng 5 năm 2025, các cơ quan chóp bu của chính quyền Việt Nam đã tiếp tục khởi tố một vụ án hình sự rất nghiêm trọng trong hoạt động buôn người xuyên quốc gia. Ngày 11 tháng 6 năm 2025, quan chức Nguyễn Bá Hoan, nguyên Thứ Trưởng Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội, hiện đang là Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ và hàng loạt các cán bộ cấp cao khác của chính quyền Việt Nam đã bị bắt giam với cáo buộc nhận hối lộ.
Trong vụ án này, nạn nhân vẫn chính là những công dân Việt Nam trong đó chủ yếu là phụ nữ và các em gái đã bị các đường dây buôn người bán ra nước ngoài thông qua các chương trình xuất khẩu lao động.
Điều đáng nói ở đây là trong cả hai vụ án nói trên, các nạn nhân buôn người đều không được xác định là người bị hại nên theo luật, các cơ quan tiến hành tố tụng không chịu nghĩa vụ phải đưa họ vào trong thành phần những người tham gia tố tụng.
Theo Điều 65 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, các nạn nhân buôn người, dù bị chiếm đoạt quyền lợi và tiền bạc nhưng họ chỉ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Theo đó, để được tham gia vụ án, chính họ phải gửi yêu cầu của mình tới các cơ quan tố tụng. Tuy nhiên, những nạn nhân buôn người đều là những người yếu thế trong xã hội. Do vậy, làm sao họ có thể biết được rằng họ có quyền yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng đảm bảo công lý cho mình. Vì thế, trong vụ án “chuyến bay giải cứu” đã không có một nạn nhân nào có mặt trong tiến trình giải quyết vụ án. Và điều này rất có thể sẽ lặp lại trong vụ án Nguyễn Bá Hoan và các quan chức đồng bọn.
Rõ ràng, đã đến lúc các nhà hoạt động xã hội, các tổ chức và cá nhân hoạt động về pháp lý, và cả các cơ quan truyền thông cần phải lên tiếng và phổ biến quyền tiếp cận công lý cho mọi nạn nhân bị tác động từ hành vi phạm tội. Đồng thời, cũng đã đến lúc các nhà làm luật cần phải cần xem xét sửa đổi luật tố tụng hình sự để buộc nghĩa vụ đối với các cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết vấn đề rộng hơn đảm bảo nguyên tắc khách quan và toàn diện mà bộ luật đã đặt ra khi xử lý vấn đề tội phạm.
